Mô hình kinh doanh là gì là một trong những từ khóa được search nhiều nhất về chủ đề Mô hình kinh doanh là gì trong bài viết này, livestream.vn sẽ viết bài Mô hình kinh doanh là gì – Tổng hợp mô hình kinh doanh hiệu quả nhất 2020
Mô hình kinh doanh là gì – Tổng hợp mô hình kinh doanh hiệu quả nhất 2020
1. The Pyramid – Mô hình Kim tự tháp
Kim tự tháp không phải một hình thức mua bán lừa đảo. Đó là một thuật ngữ dành cho các công ty mà phần đông thu nhập đến từ member link và người bán lại. doanh nghiệp ngồi trên đỉnh của Kim tự tháp và khiến thể loại doanh thu chảy ngược lên phía mình với ít cố gắng cần thiết nhất.
Mô ảnh kim tự tháp là mô hình kinh doanh vốn ít lãi nhiều vì bạn chỉ phải chia phần trăm hoa hồng cho người bán hàng. Mô ảnh bán hàng này k cần nhiều đội ngũ hỗ trợ sale khiến loại tiền trở nên tất nhiên. Các doanh nghiệp theo mô hình Kim tự tháp thường dùng những người luôn sẵn sàng “bất chấp tất cả” để đủ nội lực bán được hàng.
cách sử dụng này được một “gã khổng lồ” thương mại điện tử áp dụng khéo léo. bên cạnh đó, mô hình này thường bị biến tướng theo kiểu đa cấp. Để giới hạn mô hình kinh doanh kim tự tháp, Hiệp hội sale trực tiếp Mỹ đang thiết lập bộ quy tắc đạo đức và áp dụng trên toàn toàn cầu.
Bộ nguyên tắc này được diễn ra từ bộ luật về người tiêu sử dụng và được bổ sung vào năm 1993 thành bộ luật “Người tiêu sử dụng trong cơ hội của chúng tôi”. Trong đó, nghiêm cấm các hành vi tuyển dụng và bán hàng k công bằng hay lừa đảo; nghiêm cấm mô ảnh kinh doanh kim tự tháp; nghiêm cấm các hành vi đề cập tới thu nhập không có chứng cứ…
2. Access Over Ownership – share quyền sở hữu
Bạn vừa mới sống trong thành phố, k sở hữu một chiếc ôtô nào và tiếp tục sử dụng dịch vụ share ôtô của Zipcar – vận dụng kéo đầu trong đối tượng hiện tại. Hiện gần 2 triệu người trên toàn cầu đăng ký dịch vụ chia sẻ ôtô, và tính đến cuối năm ngoái, Zipcar có 850.000 member.
Dịch vụ share quyền sở hữu là một mô ảnh cho thuê sản phẩm/dịch vụ mà theo đó, người thuê có quyền sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn, thường là theo giờ. Dịch vụ này thu hút những khách hàng chỉ đôi khi mới sử dụng sản phẩm/dịch vụ hoặc những người like đổi qua nhiều loại sản phẩm/dịch vụ không giống thay cho món đồ họ sử dụng thường ngày. Ngoài Zipcar còn có các áp dụng như ParkCirca – thuê chỗ đậu xe, hay Peerby – thuê món đồ gần ngành bạn ở.
Dịch vụ chia sẻ oto hiện có mặt ở hơn 1.000 Tp tại nhiều quốc gia, đặc biệt ở Mỹ và các nước châu Âu, nhưng vừa mới ngày càng thịnh hành ở Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác như Ấn Độ. Theo The Economist, chia sẻ oto đủ sức giảm việc sở hữu xe với mức ước tính một xe được thuê thay cho 15 chiếc có chủ sở hữu.
3. The Experience Model – Mô hình trải nghiệm
Tesla Motor, hãng ôtô điện chỉ mới thành lập năm 2008, được xem là một Apple mới của lĩnh vực công nghiệp ôtô với những phương thức mua bán mới mẻ. công thức là thử nghiệm hàng hóa và sale trực tiếp.
Tại các gian hàng trưng bày của Tesla, khách hàng đủ nội lực nhìn thấy xét, thử xe, nghiên cứu đủ kiểu trước khi quyết định mua. Đây được xem là một khởi đầu có ý nghĩa trong mô hình mua bán hiện đại tại đối tượng Mỹ: kinh doanh nhanh chóng, gọn nhẹ, hiện đại, đơn giản hơn rất nhiều và khiến khách hàng tham vọng khi KH không phải “chịu đựng” sự theo đuổi của các đại lý cũng như vô số thủ tục phức tạp khác.
Với hướng dẫn sử dụng này, năm ngoài Tesla đã thành công vang dội với lượng đặt mua trước model Tesla 3 lên tới 325.000 đơn tương ứng lợi nhuận 14 tỷ đô la. Ngoài Telsa còn có các brand khác như: KLM, Disney World, Tomorrowland…
4. The Ecosystem – Hệ sinh thái
Nếu hỏi bất cứ ai trong số họ về tương lai điện thoại thông minh, bạn sẽ nhận được câu trả lời liên quan tới kho ứng dụng, màn hình và camera chất lượng cao, các design. Với hệ sinh thái thông dụng, Apple và Google đã là những cái tên thành công nhất trong mô ảnh này.
Họ tuyển nhân viên một lượng lớn các nhà công nghệ giỏi nhất và sáng tạo nhất trên thế giới và xây dựng những hàng hóa mẹo tân nhất, có sức ảnh hưởng lớn nhất.
Khi bạn sử dụng sản phẩm từ Amazon, Apple, Google hay Microsoft nghĩa là bạn đang tham gia vào một hệ sinh thái chứ k đơn giản là lựa chọn một thiết bị, ứng dụng hay dịch vụ. Các hãng đã chăm chỉ “trói” người tiêu dùng và giành phần đông miếng bánh thị phần.
Trong kỷ nguyên di động, cuộc chiến giữa những người khổng lồ công nghệ k chỉ xoay quanh phần cứng và software mà xây dựng rộng quy mô gấp bội kỷ nguyên PC, với sự tham gia của các hệ sinh thái rộng to tạo thành từ phần cứng, phần mềm và các dịch vụ online.
Chẳng hạn việc mua một chiếc iPhone đồng nghĩa là bạn sẽ tham gia hệ sinh thái của Apple, trả tiền cho hệ điều hành, các ứng dụng và tiếp đến sẽ là những tiện lợi cài thêm, nhạc, phim, sách và nhiều thứ khác.
5. The Subscription model – Thuê bao
Theo Inc.com, mô ảnh này được mô phỏng giống như là một câu lạc bộ dành riêng cho hội viên và khách hàng. Nó bắt buộc KH tải ký tên và mật khẩu để truy cập vào content chính của web, đủ nội lực phải trả tiền để có được những ích lợi đặc biệt.
Mô hình đăng ký cũng tương tự như KH đặt mua một kỳ báo hằng tháng hay hằng quý, nhờ đó họ đủ nội lực đọc và tìm thấy những thông tin hữu ích hơn hẳn đối với những người chỉ nhìn thấy chứ không tải ký.
Mô hình Subscription đa dạng với mọi loại content số, từ software, gaming, báo, tạp chí, dịch vụ viễn thông và content online. phương pháp làm này vừa mới tạo nên những tên tuổi như: Netflix vừa mới refresh phương pháp chúng ta nhìn thấy truyền hình/phim; Spotify đem đến hướng dẫn nghe nhạc mới hay AMC Theatres muốn cải thiện mẹo chúng ta đi xem phim.
Trong kỷ nguyên CNTT, ý tưởng về việc cho thuê đĩa DVD bằng chuyển phát mau rạch ròi là thiếu thuyết phục và có vẻ giống như k thể có một tương lai tươi sáng. Song bất chấp những chông gai và sự hoài nghi đó, Jim Cook và Suzanne Taylor vẫn cương quyết thiết lập Netflix – cái tên tiêu biểu cho The Subscription model.
Tính đến cuối năm 2015, Netflix hiện diện trên 70 triệu gia đình, riêng trong quý cuối cùng của năm 2015 đạt 12 tỷ giờ streaming, tăng 8,25 tỷ giờ so với cùng kỳ năm ngoái và góp phần vào con số 42,5 tỷ giờ trong cả năm 2015.
Với các plan phát triển đúng đắn, Netflix vừa mới trở thành một trong các ‘gã khổng lồ’ trong làng tiêu khiển.
6. The Marketplace Model – Sàn giao dịch thương mại điện tử
eBay là đại diện tiêu biểu cho mô ảnh này. Mô hình sàn thương mại điện tử Marketplace xuất hiện cung cấp cho cả bên bán lẫn bên mua những cơ hội tiếp cận không khó khăn và an toàn trên cơ sở kế thừa điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của các mô hình thương mại điện tử sẵn có.
xuất hành điểm của eBay là một website đấu giá. bên cạnh đó, nghiên cứu của Cục tìm hiểu Kinh tế quốc gia của Mỹ đã mách nhỏ có chưa đến 15% các loại hàng hóa niêm yết. Thay vào đó, hầu hết hàng hóa là để user “thêm vào giỏ hàng” – tương tự giống như Amazon và các trang thương mại Trực tuyến không giống, theo AP.
Tờ này giải thích, người dùng Internet ngày càng thích lên các diễn đàn mua sắm, ngành mọi nội dung đều do user xây dựng, và chính người dùng đủ sức trao đổi, mặc cả thậm chí kinh doanh mà không cần đến người môi giới.
Các đại diện thành công của mô hình này còn có Alibaba, Priceline…
>>> nghiên cứu Về quảng cáo Google Shopping
7. free Model – Mô hình kinh doanh miễn phí
Trong môi trường công nghệ và Internet, chúng ta dễ dàng bắt gặp những công ty áp dụng triệt để mô ảnh mua bán miễn phí, giống như Fb, Google. Dù là miễn phí nhưng cả hai đều vừa mới và đã là một trong những doanh nghiệp có giá trị đối tượng lớn nhất toàn cầu – lên đến hàng trăm tỷ đôla.
free cũng là một mô ảnh kinh doanh, trong đó ít nhất một phân khúc khách hàng đông đảo đủ sức hưởng lợi từ một sản phẩm/dịch vụ miễn phí một hướng dẫn liên tục, được tài trợ bởi một thành phần không giống trong mô hình kinh doanh hoặc một đối tượng khách hàng không giống giống như thu phí từ các tool nâng cao hay dễ dàng chỉ từ các ads.
8. The Hyper Market – Mô ảnh mua bán đại siêu thị
khởi đầu bằng sách online nhưng cho đến nay sách chỉ là một đối tượng món hàng nhỏ chiếm một phần rất nhỏ trong thu nhập của Amazon. Nhưng hãng này là điển ảnh của mô hình Đại siêu thị.
Trong khi các doanh nghiệp còn đang lơ ngơ trước một phân khúc Internet mới lạ và triển vọng, Bezos – sáng lập Amazon, đang Nhìn ra cơ hội và thách thức các hiệu sách truyền thống bằng việc xây dựng ra doanh nghiệp bán sách Trực tuyến đầu tiên trên toàn cầu. Bezos mua một nhà kho to có thể chứa được nhiều sách hơn bất cứ hiệu sách truyền thống nào.
Với việc trả tiền cho các nhà sản xuất sau, cùng với việc cho phép người dùng đánh giá và nghiên cứu về các món hàng online, Amazon đang gấp rút thu hút được một lượng KH trung thành và ưa chuộng dịch vụ của mình.
tại sao gọi là “siêu cửa hàng”? Bởi Amazon vừa mới dùng vũ khí tối thượng của doanh nhân Trực tuyến khổng lồ: dữ liệu, dữ liệu to, và chuyển lượng dữ liệu rất to này thành một loại dữ liệu giỏi, có xúc cảm, mang lại giá trị gia tăng thêm cho khách hàng của mình.
Đây chính là điều sẽ làm refresh trọn đời bộ mặt của thương mại toàn cầu: dùng dữ liệu về KH để hiểu và thu hút khách hàng trong đời thực. Amazon vừa mới tạo nên những khuynh hướng to trong lịch sử kinh tế.
9. The Freemium Model – free phối hợp cao cấp
Freemium là một mô ảnh kinh doanh hoạt động dựa trên việc cung cấp free các dịch vụ/sản phẩm với các chức năng cơ bản nhưng thu phí nếu người dùng muốn dùng các chức năng cao cấp hơn (premium) của dịch vụ/sản phẩm.
Freemium là một từ ghép được tạo ra bởi: miễn phí + Premium (tạm dịch: miễn phí và Chất lượng cao). định nghĩa Freemium được nhắc tới trước tiên bởi Fred Wilson cách đây hơn 10 năm – ngày 23/3/2006.
Các gợi ý cho mô ảnh Freemium sự phát triển là Skype cho phép sử dụng dịch vụ thoại miễn phí đối với những người sử dụng application (với chất lượng khá tốt) và thu tiền đối với các dịch vụ Premium (Voice over Internet); Flickr cho phép upload hình miễn phí với tỉ lệ tối đa là 200 tấm ảnh và dung lượng không quá 20 MB/tháng.
Nếu nâng cấp lên Pro, người sử dụng đủ nội lực upload hình không giới hạn về băng thông và dung lượng hay SurveyMonkey, website chuyên phân phối chức năng thiết kế bảng câu hỏi khảo sát online miễn phí cho user.
10. The on Demand model – Mô hình theo yêu cầu
Thuật ngữ mới để gọi hiện tượng này là “kinh tế chia sẻ” (sharing economy), hoặc kinh tế theo yêu cầu (on demand economy) vừa mới tạo nên một nền kinh tế mới của toàn cầu. Đây là cụm từ khá đa dạng thời điểm hiện giờ. Nó sử dụng để chỉ những dịch vụ như Uber (ứng dụng gọi xe taxi) hay Airbnb (dịch vụ đặt phòng online toàn cầu).
Nền kinh tế theo yêu cầu tạo dựng theo xu thế lực lượng lao động ngày càng gắn kết với điện thoại thông minh, mà hiện phân phối cấp độ tính toán cao hơn nhiều so với các máy tính để bàn đang định hình lại các công ty trong những năm 1990. hòa hợp với dữ liệu lớn (Big data) và sức mạnh của điện toán đám mây, điện thoại thông minh luôn bên mình chuẩn bị trả lời cho user mọi chủ đề về công việc mà trước đó được khắc phục theo cấu trúc của các doanh nghiệp.
khái niệm “nền kinh tế chia sẻ” khởi đầu phổ biến từ năm 2014. tuy nhiên, đến nay, ngày càng xuất hiện nhiều quan điểm phản đối sử dụng khái niệm này và cho rằng nó chỉ là tool đánh bóng tên tuổi của các công ty như Uber hay Airbnb. Bởi vì, từ “chia sẻ” để sharing sự vị tha chứ chẳng phải hàm ý về nhu cầu kinh doanh thông thường.
thành ra, truyền thông toàn cầu gần đây đã dùng cụm từ thay thế là “gig economy” (chỉ những hợp đồng cho thuê ngắn hạn). Hay một số cụm từ không giống cũng được dùng giống như “nền kinh tế cho thuê” (rental economy) hoặc “nền kinh tế 1099” (chỉ các thể loại thuế). không những thế, những doanh nghiệp như Airbnb là liên quan nhiều đến các hợp đồng thuê chứ không hề thoả thuận lương.
Nguồn: http://www.uplevo.com/